Phân tích bài thơ “Thu vịnh” – Nguyễn Khuyến

Phân tích bài thơ “Thu vịnh” – Nguyễn Khuyến


I. Mở bài

Trong nền thơ ca trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến được xem là một trong những cây đại thụ cuối cùng của dòng thơ Nho học, người đã kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn học cổ điển phương Đông với tình cảm dân tộc và tâm hồn Việt Nam. Nếu “Thu điếu” là bức tranh mùa thu gắn với con người nông dân chất phác, “Thu ẩm” là bức tranh thu gắn với thú ẩn sĩ thanh nhàn, thì “Thu vịnh” lại là bức họa thu tiêu biểu cho tâm hồn thi nhân trước thiên nhiên và thời thế, thể hiện vẻ đẹp của cảnh thu và chiều sâu tâm trạng của người trí thức yêu nước.

Thu vịnh không chỉ là bài thơ ngâm vịnh mùa thu, mà còn là một lời tự bộc bạch của tâm hồn cô đơn, cao khiết, u buồn trước cảnh đời biến động. Bài thơ cho ta thấy rõ tấm lòng của Nguyễn Khuyến – một con người trân trọng cái đẹp của thiên nhiên, nhưng cũng day dứt, thẹn thùng vì cảm thấy bất lực trước thế cuộc nhiễu nhương.


II. Thân bài


1. Tác giả Nguyễn Khuyến – đôi nét về con người và sự nghiệp

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, quê ở làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông nổi tiếng là người học rộng, tài cao, từng đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương – Hội – Đình (năm 1871), nên được nhân dân gọi là “Tam Nguyên Yên Đổ”.

Sau khi thực dân Pháp xâm lược, triều đình nhà Nguyễn lần lượt đầu hàng, ông bất bình trước thời cuộc nên từ quan về quê, sống cuộc đời ẩn dật thanh bạch, gửi gắm tâm sự vào thơ ca. Nguyễn Khuyến là một nhà thơ yêu nước kín đáo, trọng nhân nghĩa, thanh liêm, gần gũi nhân dân, gắn bó sâu sắc với làng quê đồng ruộng Bắc Bộ.

Thơ ông giản dị mà sâu sắc, vừa mang phong vị cổ điển của thơ Đường, vừa thấm đẫm chất dân gian Việt Nam. Trong sự nghiệp đồ sộ của ông, “chùm thơ thu” (Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm) được xem là đỉnh cao nghệ thuật, là biểu tượng của vẻ đẹp thuần khiết trong hồn thơ Nguyễn Khuyến.


2. Tác phẩm “Thu vịnh” – Hoàn cảnh sáng tác và thể loại

Bài thơ Thu vịnh (tức Ngâm vịnh mùa thu) được sáng tác khi Nguyễn Khuyến đã cáo quan về ở ẩn tại quê nhà Yên Đổ, trong những năm đất nước rối ren, xã hội đầy biến động. Lúc này, ông tìm đến thiên nhiên, đến mùa thu quê hương như một chốn nương náu tâm hồn.

Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, thể hiện phong cách thơ cổ điển chuẩn mực nhưng mang đậm hồn dân tộc. Mỗi câu, mỗi chữ đều tinh luyện, cân xứng, tạo nên một bức tranh thu hoàn chỉnh về cả hình, sắc, âm, khí và tình.


3. Bố cục bài thơ

  • Hai câu đề (câu 1–2): Gợi mở khung cảnh mùa thu thanh tĩnh, cao rộng.

  • Hai câu thực (câu 3–4): Miêu tả chi tiết vẻ đẹp của thiên nhiên mùa thu.

  • Hai câu luận (câu 5–6): Mở rộng không gian và cảm xúc, gợi sự hoài niệm và cô đơn.

  • Hai câu kết (câu 7–8): Bộc lộ tâm trạng, thái độ, nhân cách của thi nhân.


4. Phân tích chi tiết


a. Hai câu đề: Mở ra khung cảnh mùa thu trong trẻo, cao vợi

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Hai câu thơ đầu là một bức tranh thiên nhiên mùa thu được vẽ bằng những nét bút tinh tế, nhẹ nhàng, vừa cụ thể vừa gợi cảm.

Câu thơ đầu “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” mở ra một bầu không gian khoáng đạt, trong trẻo vô cùng. Từ láy “xanh ngắt” là điểm nhấn tuyệt diệu – nó không chỉ miêu tả màu sắc mà còn gợi chiều sâu, độ cao và sự tĩnh lặng của bầu trời thu. Cảm giác “mấy tầng cao” khiến người đọc như ngẩng lên nhìn trời, thấy lòng mình được mở rộng theo độ cao xanh ấy – một cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm mà cũng cô đơn.

Sang câu thứ hai, nét bút hạ xuống gần mặt đất: “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.” Hình ảnh cần trúc (những cây trúc mảnh mai, mềm mại) khẽ lay động trong làn gió “hắt hiu” – một luồng gió nhẹ, man mác buồn. Ở đây, cái “lơ phơ” và “hắt hiu” đều gợi sự mỏng manh, nhẹ nhàng, yên tĩnh đến nao lòng.

Cảnh vật nhỏ bé nhưng không tầm thường; nó phản chiếu tâm hồn thanh nhàn, tinh tế và sâu lắng của nhà thơ. Từ đó, không khí thu trong thơ Nguyễn Khuyến hiện lên vừa trong sáng vừa buồn bã, chứa đựng nỗi cô đơn âm thầm.


b. Hai câu thực: Cảnh thu mờ ảo, tinh tế và có chiều sâu

Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Nguyễn Khuyến không tả cảnh lớn, ông tả những gì gần gũi và quen thuộc nhất của làng quê Việt Nam. Câu thứ ba mở ra một không gian sông nước – “nước biếc trông như tầng khói phủ”. Cái “biếc” của nước gợi sắc xanh phản chiếu từ bầu trời, còn “tầng khói phủ” khiến bức tranh trở nên mờ ảo, bảng lảng, nên thơ, tạo cảm giác vừa thực vừa hư.

Chỉ một chữ “như” đã đưa người đọc đi từ thế giới thực sang thế giới của cảm xúc và mộng tưởng – nơi thiên nhiên hòa quyện cùng tâm hồn thi nhân.

Sang câu tiếp theo: “Song thưa để mặc bóng trăng vào.” Ở đây, ánh trăng trở thành linh hồn của cảnh vật. “Song thưa” (những khung cửa thưa thớt) như mở ra để ánh trăng tự nhiên len lỏi vào nhà. Cách nói “để mặc” mang nét nhân cách hóa, biểu hiện một thái độ thảnh thơi, buông lỏng, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.

Ánh trăng là biểu tượng của sự thanh khiết, của tâm hồn trong sáng. Khi ánh trăng chiếu qua song cửa, đó cũng là khi tâm hồn thi nhân hòa nhập với trời đất, trở nên tĩnh tại, nhẹ nhõm, an nhiên.


c. Hai câu luận: Cảnh vật vắng lặng, gợi nỗi cô đơn thấm thía

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Hai câu thơ này là điểm chuyển giữa cảnh và tình, là nơi Nguyễn Khuyến gửi gắm nỗi lòng hoài cổ, cô đơn, man mác buồn.

Hình ảnh “mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” vừa cụ thể, vừa gợi cảm. “Hoa năm ngoái” nay vẫn nở, vẫn còn đó – nhưng người ngắm hoa, người xưa có còn chăng? Câu thơ phảng phất ý vị thời gian, gợi nỗi hoài niệm về dĩ vãng, về tuổi trẻ, về một thời đã qua. Trong sự tĩnh lặng ấy, nhà thơ cảm nhận chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiênsự vô thường của kiếp người.

Câu kế: “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” – âm thanh duy nhất trong toàn bài, vang lên khẽ khàng mà sâu thẳm. “Ngỗng nước nào?” – một câu hỏi tu từ chất chứa nỗi niềm xa xứ, lạc loài, cô quạnh. Tiếng ngỗng ấy như âm vang của lòng người tha thiết với non sông, với cố quốc, nhưng chỉ có thể lặng nghe trong cô tịch, không thể cất lời.

Từ “mấy chùm”, “hoa năm ngoái”, “một tiếng”, “ngỗng nước nào” – tất cả đều gợi nỗi cô đơn triền miên của thi nhân trước vũ trụ bao la và dòng thời gian chảy mãi không dừng.


d. Hai câu kết: Tự bộc lộ tâm trạng – nỗi thẹn của người quân tử

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Hai câu thơ cuối là lời tự họa tinh tế, chân thật và cảm động. “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút” – thi nhân xúc động trước cảnh đẹp, muốn viết ra cảm xúc ấy. Nhưng “nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” – ông bỗng chùn tay, tự thấy mình nhỏ bé trước bậc tiền nhân.

Ông Đào” ở đây là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) – nhà thơ ẩn sĩ nổi tiếng của Trung Hoa cổ đại, người đã bỏ quan về vườn, sống cuộc đời thanh đạm, ung dung giữa thiên nhiên. Nguyễn Khuyến thấy mình giống Đào Tiềm ở chỗ đều ẩn dật, yêu thiên nhiên, nhưng ông cảm thấy “thẹn” vì không đạt được sự an nhiên tự tại, thoát tục như người xưa.

Thực ra, cái “thẹn” của Nguyễn Khuyến là một nét đẹp nhân cách: đó là nỗi thẹn của người có lòng yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc, nỗi thẹn của người tài hoa mà chưa cứu được dân, giúp được nước.

Câu kết mở ra chiều sâu triết lý nhân sinh, khiến cho “Thu vịnh” không chỉ là bài ngâm vịnh thiên nhiên, mà là lời tự vấn của một nhân cách lớn, thể hiện rõ nỗi đau thầm lặng của kẻ sĩ chân chính trong buổi hoàng hôn của đất nước.


5. Nghệ thuật đặc sắc

  • Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được vận dụng nhuần nhuyễn, mẫu mực mà vẫn mang hồn Việt.

  • Ngôn ngữ trong sáng, tinh tế, giàu sức gợi, nhiều từ láy đặc sắc (“xanh ngắt”, “lơ phơ”, “hắt hiu”...).

  • Hình ảnh giản dị mà giàu chiều sâu, gắn bó với làng quê Việt Nam.

  • Bút pháp lấy động tả tĩnh, lấy cảnh ngụ tình – tinh tế, nhẹ nhàng, sâu lắng.

  • Giọng thơ thanh thoát, trong trẻo, đượm buồn man mác, biểu hiện tâm hồn cao khiết.


6. Giá trị nội dung

“Thu vịnh” là bức tranh mùa thu thanh tao, tĩnh mịch, trong sáng và đầy chất thơ, nhưng ẩn sau đó là tấm lòng u hoài, nỗi cô đơn và khí tiết thanh cao của Nguyễn Khuyến.

  • Thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, gắn bó sâu nặng với cảnh sắc đồng bằng Bắc Bộ.

  • Đồng thời, bài thơ bộc lộ tâm trạng buồn, cô đơn, thẹn thùng của một kẻ sĩ bất lực trước thời thế – một nỗi buồn đẹp, cao quý, mang phong vị đạo đức Nho gia.


III. Kết bài

Thu vịnh” là một kiệt tác trữ tình cổ điển mang đậm tinh thần dân tộc, kết tinh vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và nghệ thuật của Nguyễn Khuyến.
Qua bức tranh mùa thu thanh khiết, tinh tế, nhà thơ không chỉ thể hiện con mắt nghệ sĩ tài hoa, mà còn gửi gắm nỗi niềm sâu kín của một người yêu nước, yêu đời, yêu cái đẹp nhưng đau đáu với thời cuộc.

Cùng với “Thu điếu”“Thu ẩm”, bài thơ “Thu vịnh” làm nên chùm thơ thu bất hủ, đưa Nguyễn Khuyến trở thành “nhà thơ của mùa thu”, “nhà thơ của làng quê Việt Nam”, người đã dùng ngòi bút thanh tao để lưu giữ vĩnh viễn vẻ đẹp của hồn quê, hồn nước, hồn người Việt Nam trong thơ ca.

Phân tích bài thơ “Thu vịnh” – Nguyễn Khuyến. Chương trình Ngữ Văn lớp 12, tập 1.

Soạn bài: Thiên Di

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phân tích “Bài học đường đời đầu tiên” Trích Dế Mèn Phiêu Lưu Kí – Tô Hoài

Tử Vi Tuổi Nhâm Thìn 1952 - Nữ mạng | Chi tiết tử vi trọn đời

Tóm tắt Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài

Bảng Tử Vi Số Mệnh từ năm 1955 đến 2000

Phân tích: Bầy chim chìa vôi – Nguyễn Quang Thiều

Thực Hành Viết: So sánh Cảm hứng mùa thu trong hai bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến và “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu

Tóm Tắt tiểu thuyết "Mưa Đỏ" của Chu Lai

Thực hành tiếng Việt: Biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ – Đặc điểm và tác dụng

Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng: Nguyên nhân, Diễn biến và Ý nghĩa